Thiền chỉ, tiếng Phạn là Samatha (Pàli: Samatha). Chỉ là dừng lại. Tịnh chỉ là dừng lại sự tán loạn, sự quên lãng, vọng niệm, chấm dứt sự đuổi bắt một đối tượng nào đó. Thiền chỉ là trạng thái tâm chuyên chú vào một cảnh, một đối tượng, khiến cho mọi vọng tưởng đều ngưng bặt, là cách tập trung tâm ý vào một pháp và không để bị chi phối bởi bất cứ một yếu tố nào khác, cả chủ quan lẫn khách quan. Chẳng hạn, mình dừng suy nghĩ để tập trung theo dõi hơi thở vào ra, hay trú tâm trên một đối tượng (như danh hiệu Phật A Di Đà), hay thuần phục tâm bằng cách nhận ra sự khởi động, phát sinh của một ý nghĩ và lập tức dừng lại… đó là thực tập Thiền chỉ.
Trong cuộc sống hàng ngày, nhiều khi ta sống mà tâm để một nơi, thân để một ngả. Con người của ta bị chia năm xẻ bảy, tâm ý trôi giạt ngàn nơi, có khi phiêu bạt về quá khứ xa xăm, có khi bồng bềnh ở tương lai mờ mịt…cho nên chúng ta mới chuốc lấy khổ đau, phiền não. Bây giờ mình không muốn khổ nữa, không muốn để cho tâm mình đi hoang nữa, không muốn để cho tâm rong ruổi và trôi lăn theo vọng niệm nữa, mình muốn dừng lại. Dừng cái tâm náo động của mình, để nó định tĩnh về một nơi, bằng cách nhiếp tâm vào câu niệm Phật, hay theo dõi hơi thở…
Đó là đang tu tập Thiền chỉ. Khi tâm dừng lại được thì mình có khả năng nhận diện và tiếp xúc, tức là mình biết được những gì đang xảy ra trong giờ phút hiện tại. Nhận diện ở đây chỉ là sự rõ biết đơn thuần mà không có phê phán, chỉ trích và lên án gì hết. Như là nhận diện sự có mặt của hơi thở. Khi thở vào biết mình thở vào, thở ra biết mình thở ra, mình tiếp xúc với hơi thở, sống với hơi thở, trở về làm một với hơi thở. Khi đó mình cảm thấy được nuôi dưỡng, được trị liệu, làm chủ thân tâm và bắt đầu cảm thấy thoải mái, thanh tịnh, an lạc, không còn bị lo âu và tham muốn lung lạc, thống trị.
Tu tập Thiền chỉ có ba cách:
1) Hệ duyên thủ cánh chỉ: Là buộc tâm tại chóp mũi hoặc giữa rốn khiến tâm không tán loạn. Kinh chép: “Buộc tâm không buông lung, cũng như xích con vượn”. (Chúng ta cũng có thể buộc tâm vào hơi thở, bước chân, danh hiệu Phật…).
2) Chế tâm chỉ: Là tùy tâm vừa khởi liền kiềm hãm lại, không cho nó dong ruổi tán loạn. Kinh chép: “Năm căn, tâm là chủ, thế nên các ông phải khéo làm chủ tâm mình”. (Gọi là biết vọng không theo).
3) Thể chơn chỉ: Là tùy tâm khởi niệm tất cả pháp đều biết do nhân duyên sanh, nó không có tự tánh thì tâm không chấp. Nếu tâm không chấp thì vọng niệm dứt, cho nên gọi là chỉ. (Luận Chỉ quán ghi: Chỉ là quán sát các pháp có mà không thực thể, thực chất là duy tâm).
Tác dụng của Thiền chỉ là gom tâm lại một chỗ và làm muội lược năm triền cái, là định tâm trong một đối tượng nhất định, làm phát sinh hỷ lạc. Tâm hỷ lạc đưa đến chứng đắc các tầng Thiền Sắc giới và Vô sắc giới. Bát định (gồm Tứ thiền Sắc giới và Tứ thiền Vô sắc giới) là kết quả tu tập của Thiền chỉ. Tuyệt đỉnh của Thiền chỉ là Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Nhưng dù đạt đến tầng vắng lặng cao siêu cùng tột này, hành giả vẫn chưa phát huy trọn vẹn ánh sáng trí tuệ để đánh tan đêm tối vô minh ngủ ngầm trong luồng nghiệp. Vô minh và ái dục giống như hai con thú dữ. Ngày nào chưa thuần hóa được chúng thì hành giả chưa tuyệt đối chu toàn, chưa thoát ra khỏi vòng sanh tử trong tam giới (Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới), chưa hoàn toàn giải thoát.
Trước khi thành đạo, Đức Thế Tôn cũng đã trải qua các thiền chứng của Bát định, nhưng Ngài không thỏa mãn với những thành quả ấy. Ðã kiểm soát và khắc phục tâm, tạm thời làm chủ mình, nhưng Ngài nhận định rằng bấy nhiêu đó chưa đủ. Thú dữ vô minh, ái dục vẫn còn đó. Phải tận diệt mọi nhiễm ô và mọi lậu hoặc mới chấm dứt hậu hoạn. Mục tiêu cứu cánh của Ngài là chứng ngộ chân lý cùng tột, thể nhập thực tại, thấy sự vật đúng như nó, tức là chứng ngộ ba đặc tính của các pháp hữu vi là vô thường, khổ, vô ngã. Chính nhờ trí tuệ trực giác này mà Bồ tát đập tung vô minh đã bao phủ từ vô lượng kiếp để vượt đến thực tại, chứng ngộ tường tận và trọn vẹn bốn chân lý cao thượng “trước kia chưa từng được nghe”, qua con đường Thiền quán.




0 Nhận xét:
Post a Comment