Showing posts with label Thiền. Show all posts
Showing posts with label Thiền. Show all posts
Nhãn:

Đi sâu vào cái chán


Chán là một trong những điều quan trọng nhất trong cuộc sống con người. Chỉ con người mới có khả năng chán; không con vật nào khác có khả năng bị chán. Chán tồn tại chỉ khi tâm trí bắt đầu đi tới ngày một gần với chứng ngộ. Chán chính là cực đối lập của chứng ngộ. Con vật không thể trở nên chứng ngộ được, do đó chúng không thể trở nên chán được. Chán đơn giản chỉ ra rằng bạn đang trở nên nhận biết về tính vô tích sự của cuộc sống, cái bánh xe thường xuyên lặp lại. Bạn đã làm tất cả những điều này trước đây rồi - chẳng cái gì xảy ra cả.

Bạn đã từng ở trong tất cả những trò này trước đây rồi - chẳng cái gì đi ra từ nó. Chán là chỉ dẫn đầu tiên rằng một hiểu biết lớn đang nảy sinh trong bạn về điều vô tích sự, vô nghĩa, của cuộc sống và những cách thức của nó. Bây giờ, bạn có thể đáp ứng với chán theo hai cách. Một cách là điều người thường vẫn làm: trốn khỏi nó, né tránh nó, không nhìn thẳng vào mắt nó, không đương đầu với nó. Để nó ở sau lưng bạn và chạy trốn đi; chạy vào những thứ có thể làm cho bạn bận rộn, những thứ cóthể trở thành ám ảnh; những thứ đem bạn đi xa khỏi thực tại của cuộc sống để bạn chưa bao giờ thấy chán nảy sinh lần nữa. Đó là lí do tại sao mọi người đã phát minh ra rượu, ma tuý.

Chúng là những cách trốn thoát khỏi chán. Nhưng bạn không thể thực sự trốn thoát được; bạn chỉ có thể né tránh một chốc được thôi. Chán sẽ tới đi tới lại mãi, và nó sẽ ngày một nặng nề hơn. Bạn có thể trốn vào dục, vào ăn quá nhiều, vào âm nhạc - bạn có thể trốn vào cả nghìn lẻ một thứ. Nhưng chán vẫn cứ nảy sinh lặp đi lặp lại mãi. Nó không phải là cái gì đó có thể né tránh được; nó là một phần của sự trưởng thành của con người. Nó phải được đối diện. Cách đáp ứng khác là đối diện với nó, suy ngẫm về nó, sống cùng với nó, là nó.

Đó là điều Phật đã làm dưới gốc cây bồ đề - đó là điều tất cả các Thiền nhân đã từng làm qua nhiều thời đại. Thiền đích xác là gì? Đối diện với chán là thiền. Thiền nhân thường hay làm gì? Ngồi im lặng, nhìn vào rốn mình, hay quan sát việc thở của mình, người đó đang được giải trí bằng những điều này, bạn nghĩ vậy sao? Người đó cực kì chán! Đó là lí do tại sao các Thiền sư cứ đi với chiếc gậy trong tay - bởi vì những người chán nhất định sẽ rơi vào giấc ngủ. Không có cách trốn nào khác, cho nên chỉ mỗi cách trốn còn lại: ít nhất họ có thể rơi vào giấc ngủ. Họ không thể trốn được.

Bản thân họ đã trở thành, theo cách riêng của họ, một phần của việc huấn luyện và kỉ luật thiền - họ không thể trốn được. Nhưng một cách trốn bao giờ cũng sẵn có: Bạn có thể rơi vào giấc ngủ, thế thì bạn quên hết tất cả về nó. Đó là lí do tại sao trong thiền người ta cảm thấy buồn ngủ. Toàn thể nỗ lực trong thiền là thế này: Chán nhưng không trốn khỏi nó; và giữ tỉnh táo, bởi vì nếu bạn rơi vào giấc ngủ bạn đã trốn rồi. Giữ tỉnh táo! Quan sát nó, chứng kiến nó. Nếu nó có đó, thì nó có đó. Nó phải được nhìn vào, tới chính cốt lõi của nó. Nếu bạn cứ nhìn vào cái chán mà không trốn đi, bùng nổ sẽ tới. Một ngày nào đó, bỗng nhiên, nhìn sâu vào trong cái chán, bạn thấm vào cái không của riêng mình.

Chán chỉ là cái vỏ, cái bình chứa mà trong đó cái không bên trong của bạn được hàm chứa. Nếu bạn trốn khỏi chán, bạn đang trốn khỏi cái không riêng của mình. Nếu bạn không trốn khỏi cái chán, nếu bạn bắt đầu sống với nó, nếu bạn bắt đầu chấp nhận nó, đón chào nó... Đó là điều thiền tất cả là gì: đón chào chán, đi vào trong nó theo cách riêng của người ta; không chờ đợi nó tới mà tìm kiếm nó. Ngồi hàng giờ trong tư thế yoga, chỉ quan sát việc thở của mình, người ta thấy chán lắm. Và toàn thể huấn luyện của thiền là ở chỗ nó giúp cho việc chán. Trong Thiền viện bạn phải dậy mọi ngày vào đúng giờ buổi sáng - mọi ngày, hết năm nọ tới năm kia. Chẳng thành vấn đề mùa hè hay mùa đông. Bạn phải dậy sớm, vào ba giờ sáng, bạn phải tắm. Bạn phải uống cùng loại trà, và bạn phải ngồi...

Cùng tư thế phải được tuân theo lặp đi lặp lại. Và cả ngày cũng theo một thường lệ rất cố định: Bạn sẽ ăn bữa sáng vào giờ nào đó, thế rồi bạn sẽ lại thiền, thế rồi bạn sẽ lại ăn vào giờ nào đó - và cùng thức ăn! Mọi thứ đều giúp cho chán. Và cùng quần áo ấy, cùng tu viện ấy, cùng thầy ấy mọi ngày với cây gậy trong tay đi quanh. Mọi ngày vào buổi tối bạn phải đi một chầu với thầy. Và câu hỏi được trao cho là câu hỏi chán thế để mà thiền: "Tiếng vỗ tay của một bàn tay là gì?" Chỉ nghĩ về nếu - nó sẽ làm bạn phát điên! Tiếng vỗ tay của một bàn tay là gì? Không có câu trả lời cho nó, bạn biết điều đó; mọi người đều biết không có câu trả lời cho nó. Mà thầy thì cứ khăng khăng, "Cứ lặp lại, cứ thiền về nó đi." Điều đó tất cả đã được thu xếp kĩ lưỡng.

Chán phải được tạo ra - mạnh mẽ, cực mạnh. Chán phải được cho phép toàn bộ nhất có thể được, phải được giúp đỡ, được hỗ trợ từ mọi phía. Cùng buổi tối, cùng công việc, cùng việc tụng mật chú. Đồng thời bạn lại phải đi ngủ... và điều này cứ tiếp diễn, cái bánh xe này. Trong vòng vài ngày bạn hoàn toàn chán và bạn không thể trốn thoát được. Không có cách nào để trốn cả. Bạn không thể đi xem phim, bạn không thể xem ti vi; bạn không thể có cái gì sẽ giúp cho bạn né tránh nó. Bạn bị ném đi ném lại vào trong nó. Dũng cảm lớn là cần để đối diện với nó. Nó gần giống như cái chết; thực tế, còn khắc nghiệt hơn là cái chết, bởi vì chết tới khi bạn đi vào vô ý thức.

Còn bạn vẫn đang khuấy lên đủ mọi loại chán. Cái gì xảy ra? Đây là bí mật của mọi việc thiền: Nếu bạn cứ quan sát, quan sát, quan sát, chán trở nên ngày một lớn hơn, ngày một mạnh hơn, thế rồi tới đỉnh. Không cái gì có thể diễn ra mãi mãi được - có một điểm tại đó bánh xe quay. Nếu bạn có thể đi tới chính cực điểm đó, tới chính đỉnh cao đó, thế thì thay đổi, biến đổi - chứng ngộ, tỏ ngộ, hay bất kì cái gì bạn muốn gọi nó - xảy ra. Thế thì một ngày nào đó, bỗng nhiên, chán trở thành quá nhiều. Bạn bị ngộp thở, bạn gần như bị nó giết chết. Bạn bị bao quanh bởi đại dương chán. Bạn bị tràn ngập bởi nó và dường như không có cách nào để trốn thoát.

Chính sự mãnh liệt và tính toàn bộ của nó, và bánh xe quay. Bỗng nhiên chán biến mất và có tỏ ngộ satori, samadhi. Bạn đã đi vào cái không của mình. Bây giờ sẽ không còn chán gì nữa. Bạn đã thấy chính cái không của cuộc sống. Bạn đã biến mất - ai có thể bị chán đây? Với cái gì? Bạn không tồn tại nữa. Bạn đã triệt tiêu. Bạn hỏi: "Chán đích xác là cái gì?" Một hiện tượng tâm linh lớn lao. Đó là lí do tại sao con trâu lại không chán; chúng trông hoàn toàn hạnh phúc và vui vẻ. Chỉ con người mới chán. Và trong con người, nữa, chỉ những người rất tài năng và thông minh mới chán. Người ngu không chán. Họ hoàn toàn hạnh phúc làm việc của mình, kiếm tiền, tạo ra số dư ngân hàng lớn hơn, nuôi nấng con cái, sinh đẻ, ăn, ngồi trong rạp chiếu phim, đi tiệm ăn, tham dự cái này cái nọ.

Họ đang hưởng thú! Họ không chán. Họ là những kiểu thấp nhất; họ thực sự thuộc về thế giới của trâu. Họ còn chưa là người. Một người trở thành con người khi người đó bắt đầu cảm thấy chán. Bạn có thể thấy điều đó: Đứa trẻ thông minh nhất sẽ là đứa trẻ chóng chán nhất - bởi vì chẳng cái gì có thể giữ sự chú ý của nó lâu được. Chẳng chóng thì chầy nó sẽ tình cờ bắt gặp sự kiện và hỏi, "Bây giờ cái gì đây? Cái gì nữa? Cái này được kết thúc rồi. Cháu đã thấy đồ chơi này rồi, cháu đã nhìn vào trong nó, cháu đã mở nó ra, cháu đã phân tích nó, bây giờ cháu được kết thúc rồi - cái gì nữa?" Đến lúc nó trở thành thanh niên, nó đã chán. Phật đã hoàn toàn chán.

Ông ấy rời bỏ vương quốc của mình khi ông ấy chỉ mới hai mươi chín tuổi, đỉnh điểm thời thanh niên của ông ấy. Ông ấy đã hoàn toàn chán - với đàn bà, với rượu, với của cải, với vương quốc, với mọi thứ. Ông ấy đã thấy tất cả, ông ấy đã nhìn đi nhìn lại. Ông ấy đã chán. Ông ấy đã từ bỏ thế giới không phải bởi vì thế giới sai, nhớ lấy. Về truyền thống người ta nói rằng ông ấy đã từ bỏ thế giới bởi vì thế giới xấu - điều đó tuyệt đối vô nghĩa. Ông ấy đã từ bỏ thế giới bởi vì ông ấy đã trở nên chán thế với nó. Nó không xấu, nó cũng chẳng tốt. Nếu bạn thông minh, nó là chán. Nếu bạn ngu, bạn có thể tiếp tục. Thế thì đó là vòng quay ngựa gỗ; thế thì bạn đi từ cảm giác này sang cảm giác khác.

Bạn quan tâm tới những điều tầm thường và bạn cứ lặp lại và bạn không đủ ý thức để thấy sự lặp lại - bạn không thể thấy rằng hôm qua bạn đã làm điều này, và hôm nay cũng thế, và bạn đang tưởng tượng làm cùng điều đó ngày mai. Bạn phải thực sự không thông minh. Làm sao thông minh có thể tránh được chán? Điều đó là không thể được. Thông minh nghĩa là thấy mọi thứ như chúng đang đó. Phật đã bỏ thế giới do chán; hoàn toàn chán, ông ấy chạy xa khỏi thế giới. Và ông ấy đã làm gì trong sáu năm ngồi trong những khu rừng đó?

Ông ấy đã ngày càng chán hơn. Bạn có thể làm gì, khi ngồi trong rừng? Quan sát hơi thở của mình, nhìn vào rốn mình, ngày nọ ngày kia, năm nọ năm kia. Ông ấy đã tạo cho cái chán lên tới đỉnh tối thượng của nó, và một đêm nó biến mất. Nó biến mất theo cách riêng của nó. Nếu bạn đạt tới đỉnh... chỗ rẽ tới. Nó tới! và với chỗ rẽ đó của sóng triều, ánh sáng đi vào bản thể bạn - bạn biến mất, chỉ ánh sáng còn lại. Và với ánh sáng, vui vẻ tới. Bạn tràn đầy vui vẻ - bạn không có, nhưng tràn đầy vui vẻ chẳng vì nguyên nhân nào cả. Vui vẻ đơn giản bùng lên trong bản thể bạn. Người thường vui có lí do - người đó đã trong tình yêu với người đàn bà mới hay người đàn ông mới và người đó vui.

Vui của người đó là tạm thời. Ngày mai người đó sẽ chán người đàn bà này và người đó sẽ bắt đầu tìm người đàn bà khác. Người thường vui bởi vì người đó kiếm được chiếc xe mới; ngày mai người đó sẽ phải tìm chiếc xe khác. Nó cứ diễn ra mãi... và người đó chẳng bao giờ thấy ra vấn đề của nó, rằng bao giờ, chung cuộc, người ta đều chán. Làm bất kì cái gì - chung cuộc bạn sẽ chán, mọi hành động đều đem tới chán. Người thông minh thấy điều đó. Bạn càng thấy điều đó sớm, bạn càng biểu lộ thông minh hơn. Thế thì cái gì còn lại? Thế thì chỉ mỗi chán là còn lại, và người ta phải thiền về nó. Không có cách nào trốn khỏi nó. Thế thì đi vào nó đi, xem nó dẫn đến đâu. Và nếu bạn có thể giữ việc đi vào nó, nó dẫn vào chứng ngộ đấy. Chỉ con người mới có khả năng chán, và chỉ con người mới có khả năng chứng ngộ.

-------- Vui vẻ - Osho ------------------

Nhãn:

Tôi đã từng muốn là người tốt

đã


Đạo đức có liên quan tới tính tốt và tính xấu. Người tốt - theo đạo đức - là người lương thiện, chân thực, đích thực, đáng tin cậy. Con người của nhận biết không chỉ là người tốt, người đó còn nhiều hơn thế. Với người tốt, lòng tốt là tất cả; với người của nhận biết, lòng tốt chỉ là sản phẩm phụ. 


Khoảnh khắc bạn ý thức tới bản thể riêng của mình, lòng tốt đi theo bạn như cái bóng. Thế thì không có nhu cầu về nỗ lực nào để là tốt; lòng tốt trở thành bản tính của bạn. Cũng như cây xanh, bạn tốt. Nhưng "người tốt" không nhất thiết nhận biết. Lòng tốt của người đó là từ nỗ lực lớn lao, người đó tranh đấu với tính xấu - dối trá hay ăn cắp, giả dối, bất lương, bạo hành. 


Chúng có trong người tốt nhưng bị kìm nén, chúng có thể bùng phát vào bất kì khoảnh khắc nào. Người tốt có thể đổi thành người xấu một cách dễ dàng, chẳng cần nỗ lực nào - bởi vì tất cả những tính xấu đó đều có đó, chỉ đang ngủ, bị kìm nén bởi nỗ lực. Nếu người đó bỏ đi nỗ lực này, chúng sẽ lập tức bùng phát trong cuộc sống người đó. Và tính tốt chỉ từ trau dồi, thì không phải là tự nhiên. 


Người đó đã cố gắng vất vả để lương thiện, để chân thành, không dối trá - nhưng nó đã là nỗ lực, nó đã là mệt mỏi. Người tốt bao giờ cũng nghiêm chỉnh, bởi vì người đó sợ tất cả những tính xấu người đó đã kìm nén. Và người đó nghiêm chỉnh bởi vì sâu bên dưới người đó ham muốn được tôn kính vì lòng tốt của người đó, được đền ơn. Niềm khao khát của người đó là được kính trọng. Cái gọi là thánh nhân của bạn phần lớn chỉ là "người tốt." 


Chỉ có một cách để siêu việt lên trên "người tốt" và đó là bằng cách đem nhiều nhận biết vào bản thể bạn. Nhận biết không phải là cái gì đó được trau dồi; nó đã có đó rồi, nó chỉ phải được thức tỉnh. Khi bạn được thức tỉnh toàn bộ, bất kì điều gì bạn làm đều tốt, và bất kì điều gì bạn không làm đều xấu. Người tốt phải làm nỗ lực rất lớn để làm điều tốt và tránh điều xấu; cái xấu là cám dỗ thường xuyên với người đó. Đó là chọn lựa: mọi khoảnh khắc người đó phải chọn cái tốt, và không chọn cái xấu. 


Chẳng hạn, một người như Mahatma Gandhi - ông ấy là người tốt; ông ấy đã cố gắng vất vả cả đời mình để ở bên phía tốt. Nhưng cho dù vào độ tuổi bẩy mươi ông ấy vẫn còn giấc mơ dục, và ông ấy rất khổ sở: "Khi có liên quan tới giờ thức của tôi, tôi có thể giữ cho bản thân mình hoàn toàn tự do với dục. Nhưng tôi có thể làm gì trong giấc ngủ? Mọi thứ tôi kìm nén ban ngày lại tới vào ban đêm." Điều đó chỉ ra một điều, rằng nó đã không đi đâu cả; nó đã ở bên trong bạn, chỉ chờ đợi. 


Khoảnh khắc bạn thảnh thơi, khoảnh khắc bạn vứt bỏ nỗ lực - và ngủ thì ít nhất bạn phải thảnh thơi và vứt bỏ nỗ lực là người tốt - tất cả những tính xấu đã từng bị kìm nén sẽ bắt đầu trở thành giấc mơ của bạn. Giấc mơ của bạn là ham muốn bị kìm nén của bạn. Người tốt là trong xung đột liên tục. 


Cuộc sống của người đó không phải là cuộc sống của niềm vui; người đó không thể cười toàn tâm, người đó không thể hát, người đó không thể nhảy múa. Trong mọi thứ người đó liên tục đưa ra phán xét. Tâm trí người đó đầy những kết án và phán xét - và bởi vì bản thân người đó đang cố gắng vất vả để là tốt, người đó phán xét người khác cũng theo cùng tiêu chí này. 


Người đó không thể chấp nhận bạn như bạn đang vậy; người đó có thể chấp nhận bạn chỉ nếu bạn hoàn thành yêu cầu của người đó về việc là tốt. Và bởi vì người đó không thể chấp nhận được mọi người như họ đang vậy, người đó kết án họ. Tất cả các thánh nhân đều đầy những kết án mọi người; theo họ thì các bạn tất cả đều là tội đồ. 


Đây không phải là phẩm chất của người tôn giáo đích thực. Người tôn giáo đích thực không có phán xét, không có kết án. Người đó biết một điều, rằng không hành động nào là tốt và không hành động nào là xấu - nhận biết là tốt và vô nhận biết là xấu. Bạn thậm chí có thể làm cái gì đó, trong vô nhận biết, điều đó có vẻ tốt cho toàn thế giới, nhưng với người tôn giáo điều đó không tốt. Và bạn có thể làm điều gì đó xấu, và bạn sẽ bị kết án bởi mọi người trừ người tôn giáo. 


Người đó không thể kết án bạn được - bởi vì bạn vô ý thức; bạn cần từ bi, không phán xét. Không kết án - bạn không đáng xuống địa ngục, không ai đáng xuống địa ngục. Đi tới điểm nhận biết toàn bộ, không có vấn đề về chọn lựa - bạn đơn giản làm bất kì điều gì cũng là tốt. Bạn làm nó một cách hồn nhiên, cũng như cái bóng đi theo bạn, không nỗ lực gì. Nếu bạn chạy, cái bóng chạy; nếu bạn dừng, cái bóng dừng - nhưng không có nỗ lực về phần cái bóng.


Con người của nhận biết không thể bị coi là đồng nghĩa với người tốt. Người đó tốt - nhưng theo cách khác, từ góc độ khác. Người đó tốt không phải bởi vì người đó cố gắng là tốt; người đó tốt bởi vì người đó nhận biết. Và trong nhận biết, xấu, ác, tất cả những từ kết án đó, biến mất như bóng tối biến mất trong ánh sáng. Các tôn giáo đã quyết định vẫn còn chỉ đạo đức. Chúng là luật luân lí; chúng hữu dụng cho xã hội, nhưng không hữu dụng cho bạn, không hữu dụng cho cá nhân. Chúng là tiện nghi do xã hội tạo ra. Một cách tự nhiên, nếu mọi người bắt đầu ăn cắp, cuộc sống sẽ thành không thể được; nếu mọi người bắt đầu nói dối, cuộc sống sẽ thành không thể được; nếu mọi người bất lương, bạn không thể tồn tại được chút nào. 


Cho nên ở mức độ thấp nhất, xã hội cần tới đạo đức; nó là tiện dụng của xã hội, nhưng nó không phải là cách mạng tôn giáo. Đừng được thoả mãn chỉ bởi việc là tốt. Nhớ lấy, bạn phải đi tới điểm mà bạn không cần ngay cả việc nghĩ về cái gì là tốt và cái gì là xấu. Chính nhận biết của bạn, chính tâm thức của bạn, đơn giản đưa bạn tới cái là tốt - không có kìm nén. Tôi sẽ không gọi Mahatma Gandhi là con người của nhận biết, chỉ là người tốt thôi - và ông ấy đã cố gắng thực sự vất vả để là tốt. 


Tôi không nghi ngờ ý định của ông ấy, nhưng ông ấy bị ám ảnh bởi lòng tốt. Con người của nhận biết không bị ám ảnh bởi cái gì - người đó không có ám ảnh. Người đó chỉ thảnh thơi, bình thản và yên tĩnh, im lặng và chân thành. Từ im lặng của người đó bất kì cái gì nở hoa cũng tốt. Nó bao giờ cũng tốt - người đó sống trong nhận biết vô chọn lựa. 


Cho nên vượt ra ngoài khái niệm thông thường của người tốt đi. Bạn sẽ không là tốt, bạn sẽ không là xấu. Bạn sẽ đơn giản tỉnh táo, ý thức, nhận biết, và thế thì bất kì cái gì đi theo cũng sẽ là tốt. Theo một cách khác tôi có thể nói rằng trong nhận biết toàn bộ của mình bạn đạt tới phẩm chất của tính thượng đế - và tốt chỉ là một sản phầm phụ nhỏ của tính thượng đế. Tôn giáo đã từng dạy bạn là tốt, để cho một ngày nào đó bạn có thể tìm thấy Thượng đế. 


Điều đó là không thể được - không người tốt nào đã từng tìm thấy tính thượng đế. Tôi đang dạy chính điều ngược lại: tìm tính thượng đế, và cái tốt sẽ tới theo cách riêng của nó. Và khi cái tốt tới theo cách riêng của nó, nó có cái đẹp, cái duyên dáng, sự đơn giản, sự khiêm tốn. Nó không yêu cầu bất kì phần thưởng nào ở đây hay ở sau đây. Nó là phần thưởng riêng của nó.


------- Nhận biết - Osho --------

Nhãn:

Tâm bất sinh



Nếu vì mong mỏi nhận cho ra cái Bất sinh mà quý vị rán ngăn chặn những ý tưởng giận dữ thèm khát không cho chúng khởi lên, thì khi làm như vậy quý vị đã phân chia một cái tâm duy nhất ra làm hai. Cũng như thể là quý vị đuổi theo một cái gì đang trốn chạy. Khi ta còn cố ý ngăn tư tưởng khởi lên, thì cái ý ấy chống lại với những ý khác đang khởi lên liên tục, thế là không bao giờ có sự chấm dứt. Việc ấy cũng như thể là dùng máu để rửa máu, không bao giờ sạch được. Cũng vậy, mặc dù những tư tưởng giận dữ mà bạn ngăn chặn ấy có thể chấm dứt, nhưng cái tư tưởng sau dùng để ngăn chặn tư tưởng trước cứ tiếp tục không bao giờ dừng nghỉ.

Bạn có thể hỏi, vậy tôi phải làm sao? Nếu bỗng dưng ý tưởng giận dữ, hay thèm khát, hay bám víu... khởi lên nơi bạn một cách bất trị, ngoài ý muốn, thì đừng khai triển nó thêm, đừng để ý đến nó. Đừng bận tâm ngăn chặn hay không ngăn chặn, chỉ cần thây kệ nó, thì nó không thể làm gì khác hơn là đi đến chấm dứt. Bạn không thể cãi với vách tường nếu bạn chỉ đứng một mình. Khi không có ai ở đấy để chiến đấu, thì mọi việc tự động đi đến chấm dứt.

Dù cho đủ mọi thứ tư tưởng tạp loạn thò mặt ra, thì cũng chỉ ló ra trong một chốc. Hệt như trẻ con ba bốn tuổi bận rộn trong trò chơi (trẻ mau chán. ND.). Nếu bạn không bám víu một tư tưởng nào đặc biệt, như vui hay buồn, không nghĩ tới chuyện chấm dứt hay không chấm dứt nó, thì thế chính là an trú trong Tâm Bất sinh. Hãy giữ cho cái tâm duy nhất vẫn là cái tâm duy nhất. 


Nếu tâm bạn luôn luôn như vậy, thì dù cho điều tốt điều xấu gì khởi lên cũng tự động chấm dứt mà không cần bạn phải cố nghĩ hay không nghĩ. Cái mà bạn gọi là cơn giận hay niềm vui toàn là do bạn sản xuất với mãnh lực của tính chấp ngã, hậu quả của dục vọng ích kỷ. Khi vượt ngoài mọi ý tưởng bám víu thì những tư tưởng kia sẽ tự động tan biến. Sự biến mất ấy chính là cái Bất diệt. Và cái bất diệt chính là Tâm Phật bất sinh.


------ Tâm bất sinh - Bankei --------

Nhãn:

Thiền quán là gì ?



Thiền quán
Thiền quán hay thiền Minh sát, tiếng Phạn là Vipasyana (Pàli: Vipassana). Vipasyana có nghĩa là thấy mọi sự vật đúng như bản chất của chúng. Quán là xem xét thực tướng của mọi sự vật bằng ánh sáng tuệ giác phát sinh từ tâm. Thiền quán là tĩnh tâm tư duy, quán chiếu chân lý, là ý thức một cách rõ ràng những gì đang xảy ra trong bốn lãnh vực thân, thọ, tâm và pháp (Tứ niệm xứ).
Thiền quán là nhìn sâu, nhìn kỹ để chứng nghiệm thực tại, tức thấy được đặc tướng của các pháp là vô thường, vô ngã, tương tức và Niết bàn. Khác với thiền chỉ, thiền quán không cần phải chọn những đề mục đặc biệt để tập trung chú tâm, mà chỉ cần nhìn, quán sát với chánh niệm để hiểu rõ sự vật như nó đang là.
Có nhiều cách thực hành thiền quán, như quán Tứ niệm xứ, quán Từ bi, quán Ngũ uẩn, quán Duyên khởi… Quán Tự Tại là danh hiệu vị Bồ tát thực tập thiền quán thành công khi nhìn sâu vào bản chất của năm uẩn và thấy được đặc tướng duyên sanh vô ngã của nó, cho nên đã vượt qua được khổ đau, ách nạn. Cái thấy đó là tuệ giác Bát nhã, có khả năng chuyển hóa, đốt cháy mọi khổ đau, phiền não.
Chúng ta có thói quen nhìn sự vật hiện tượng một cách hời hợt, nên không thấy được chân tướng của mọi sự vật như là chúng thực sự hiện hữu, và vì vậy thường bị cái vẻ bề ngoài của chúng đánh lừa (phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng). Đó là nguồn gốc của mọi khổ đau, phiền não. Khi thực tập thiền quán, chúng ta nhìn sâu vào lòng sự vật nhằm quán chiếu, thẩm sát để chứng nghiệm, thấy rõ, hiểu sâu và hiểu đúng thực chất của sự vật là duyên sinh, vô thường, vô ngã. Đây là cái thấy rất sâu sắc và đầy tuệ giác. Thấy rõ mọi sự vật hiện tượng đều nương vào nhau mà sinh tồn và hoại diệt; bản chất của mọi sự hiện hữu đều tương quan nhân quả, mọi đổ vỡ mất mát thương đau đều có nguyên do của nó… Nhờ cái thấy và hiểu này mà chúng ta cởi bỏ được những mê lầm chấp trước và đạt tới trạng thái an lạc, tự do, giải thoát.
Kinh Kim Cương đề nghị chúng ta thực tập thiền quán bằng cách: “Nhìn một cách sâu sắc để thấy hết thảy các pháp đều do duyên sinh, tất cả đều như mộng, như huyễn, như bọt nước, như sương mai, như ánh chớp”. Khi thực tập cái nhìn như vậy, mọi tham ưu ở đời đều bị thiêu rụi, hành giả đạt được trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, và dần hướng đến giác ngộ giải thoát: “Nhờ hiểu biết như vậy, tâm của Ta thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Đối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: ‘Ta đã giải thoát’. Ta đã biết: ‘Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành. Việc cần làm đã làm. Không còn trở lui trạng thái này nữa’. Này Aggivessana, đó là Minh thứ ba, Ta đã chứng được trong canh cuối, vô minh diệt minh sanh, mê tối diệt ánh sáng sanh, do ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần” (Kinh Trung Bộ).
Có hai loại Thiền quán:
a. Đối trị quán: Như quán bất tịnh đối trị tham dục, quán từ bi đối trị giận hờn, quán giới phân biệt đối trị chấp ngã, quán sổ tức đối trị loạn động v.v...
b. Chánh quán: Quán các pháp không tướng đều do nhân duyên sanh, vì nhân duyên sanh nên thể tánh các pháp là Không, tức là thật tướng. Nhờ thấy rõ các đối tượng quán đều không nên chủ thể quán tự nhiên thanh tịnh.
Thiền quán không hạn chế đối tượng quán mà hướng tâm vào những trạng thái luôn luôn biến đổi của tâm và thân, ghi nhận tất cả mọi hiện tượng đang xảy ra. Công phu thực hành thiền quán là thẩm sát trong chánh niệm bất luận những gì được tri giác nhưng đồng thời buông bỏ tất cả, không bám níu gì hết. Bí quyết của thiền quán là chủ thể quán chiếu với đối tượng quán chiếu trở thành nhất như. Nghĩa là ranh giới giữa chủ thể và đối tượng không còn, bất nhị.
Sự tương quan giữa Thiền chỉ và Thiền quán
Trong thiền chỉ, hành giả chọn và vận dụng một trong số các môn (giác quan), như nhãn môn hay ý môn để tập trung, còn các môn khác thì không dùng. Nhưng trong thiền quán, hành giả không nhất thiết chọn một đề mục nào mà vận dụng cả sáu môn cùng với sáu đối tượng của nó. 
Trong thiền chỉ, khi hành giả chọn đề mục, dùng tâm quán niệm đề mục ấy cho đến lúc tâm có đủ năng lực nhiếp phục, hóa giải năm triền cái, năm Thiền chi dần dần hiện rõ, tâm an trụ vững trong đề mục và cuối cùng chứng đắc các tầng thiền (Bát định). Năm triền cái đối nghịch với Thiền chỉ vì là chướng ngại, cản trở tâm an trụ nhưng không đối nghịch nhiều với Thiền minh sát. Niệm về năm triền cái, tức lấy sự hay biết năm chướng ngại tinh thần này làm đề mục Thiền quán, là một phần của niệm pháp, một trong bốn lãnh vực quán niệm. 
Ðối tượng của Thiền minh sát là thực thể pháp trong hiện tại, những gì thật sự đang xảy diễn trong khoảnh khắc hiện tại. Ðối tượng của Thiền minh sát là Tứ niệm xứ. Các đối tượng chế định, do hành giả tự tạo như cảm giác hay hình ảnh v.v... không thể dùng làm đối tượng Thiền minh sát, chỉ dùng làm đối tượng của Thiền chỉ. 
Dầu Thiền chỉ và Thiền minh sát có sự khác biệt nhau song Thiền chỉ có thể làm nền tảng cho Thiền minh sát như trường hợp Ðức Phật. Ngài tiến cao đến mức cùng tột của Thiền chỉ là Phi tưởng phi phi tưởng rồi xả thiền, quán chiếu thân và tâm Ngài, dùng chi thiền hỷ, lạc v.v... làm đối tượng và thấy rõ vô thường, khổ, vô ngã. Ðó là Thiền minh sát dùng Thiền chỉ làm nền tảng:
Như chim có hai cánh
Thiền tập có chỉ quán
Hai cánh chim nương nhau
Chỉ và quán song hành. 
Kết luận
Thiền là phương thức thực tập cốt tủy của đạo Phật: “Này các thầy Tỷ kheo, con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt qua mọi sầu não, khổ, ưu, thành tựu chánh lý, hiện chứng Niết bàn là con đường này: Đó là bốn niệm xứ” (Kinh Tứ Niệm Xư).
Thiền chỉ là dừng lại. Thiền quán là nhìn sâu. Đây là hai phương pháp giúp hành giả đạt tới một cái thấy sâu sắc về thực tại, cái thấy này có khả năng giải phóng cho mình ra khỏi sợ hãi, lo âu, phiền muộn, chế tác chất liệu trí tuệ và từ bi, nâng cao phẩm chất của sự sống, đem lại cho mình và cho kẻ khác nhiều thảnh thơi và an lạc. Bản chất của thiền định là niệmđịnh và tuệ, ba nguồn năng lượng được chế tác trong khi thực tập. Ta thực tập thiền không phải chỉ trong tư thế ngồi mà còn trong các tư thế khác như tư thế đi, tư thế đứng, tư thế nằm, trong những lúc làm việc như giặt áo, bổ củi, gánh nước, tưới rau hoặc lái xe. 
Bất cứ trong tư thế nào, bất cứ đang làm gì và ở đâu mà trong thân tâm mình có được ba loại năng lượng niệm, định, tuệ là mình đang thực tập thiền. Sự thực tập này, nếu được chỉ dẫn đúng mức, có thể đem lại sự thoải mái và an lạc ngay trong lúc thực tập. Thực tập thiền có tác dụng nuôi dưỡng và trị liệu cho cả thân và tâm, đem lại nguồn vui sống cho người thực tập và cho những người xung quanh. Không phải chỉ đi vào chùa hoặc thiền viện mới thực tập được thiền. Sống trong xã hội, bất cứ làm gì, ở đâu ta cũng có thể tập thiền được.

Nhãn:

Thiền chỉ là gì ?



Thiền chỉ
Thiền chỉ, tiếng Phạn là Samatha (Pàli: Samatha). Chỉ là dừng lại. Tịnh chỉ là dừng lại sự tán loạn, sự quên lãng, vọng niệm, chấm dứt sự đuổi bắt một đối tượng nào đó. Thiền chỉ là trạng thái tâm chuyên chú vào một cảnh, một đối tượng, khiến cho mọi vọng tưởng đều ngưng bặt, là cách tập trung tâm ý vào một pháp và không để bị chi phối bởi bất cứ một yếu tố nào khác, cả chủ quan lẫn khách quan. Chẳng hạn, mình dừng suy nghĩ để tập trung theo dõi hơi thở vào ra, hay trú tâm trên một đối tượng (như danh hiệu Phật A Di Đà), hay thuần phục tâm bằng cách nhận ra sự khởi động, phát sinh của một ý nghĩ và lập tức dừng lại… đó là thực tập Thiền chỉ.
Trong cuộc sống hàng ngày, nhiều khi ta sống mà tâm để một nơi, thân để một ngả. Con người của ta bị chia năm xẻ bảy, tâm ý trôi giạt ngàn nơi, có khi phiêu bạt về quá khứ xa xăm, có khi bồng bềnh ở tương lai mờ mịt…cho nên chúng ta mới chuốc lấy khổ đau, phiền não. Bây giờ mình không muốn khổ nữa, không muốn để cho tâm mình đi hoang nữa, không muốn để cho tâm rong ruổi và trôi lăn theo vọng niệm nữa, mình muốn dừng lại. Dừng cái tâm náo động của mình, để nó định tĩnh về một nơi, bằng cách nhiếp tâm vào câu niệm Phật, hay theo dõi hơi thở… 
Đó là đang tu tập Thiền chỉ. Khi tâm dừng lại được thì mình có khả năng nhận diện và tiếp xúc, tức là mình biết được những gì đang xảy ra trong giờ phút hiện tại. Nhận diện ở đây chỉ là sự rõ biết đơn thuần mà không có phê phán, chỉ trích và lên án gì hết. Như là nhận diện sự có mặt của hơi thở. Khi thở vào biết mình thở vào, thở ra biết mình thở ra, mình tiếp xúc với hơi thở, sống với hơi thở, trở về làm một với hơi thở. Khi đó mình cảm thấy được nuôi dưỡng, được trị liệu, làm chủ thân tâm và bắt đầu cảm thấy thoải mái, thanh tịnh, an lạc, không còn bị lo âu và tham muốn lung lạc, thống trị.
Tu tập Thiền chỉ có ba cách:
1) Hệ duyên thủ cánh chỉ: Là buộc tâm tại chóp mũi hoặc giữa rốn khiến tâm không tán loạn. Kinh chép: “Buộc tâm không buông lung, cũng như xích con vượn”. (Chúng ta cũng có thể buộc tâm vào hơi thở, bước chân, danh hiệu Phật…).
2) Chế tâm chỉ: Là tùy tâm vừa khởi liền kiềm hãm lại, không cho nó dong ruổi tán loạn. Kinh chép: “Năm căn, tâm là chủ, thế nên các ông phải khéo làm chủ tâm mình”. (Gọi là biết vọng không theo).
3) Thể chơn chỉ: Là tùy tâm khởi niệm tất cả pháp đều biết do nhân duyên sanh, nó không có tự tánh thì tâm không chấp. Nếu tâm không chấp thì vọng niệm dứt, cho nên gọi là chỉ. (Luận Chỉ quán ghi: Chỉ là quán sát các pháp có mà không thực thể, thực chất là duy tâm).
Tác dụng của Thiền chỉ là gom tâm lại một chỗ và làm muội lược năm triền cái, là định tâm trong một đối tượng nhất định, làm phát sinh hỷ lạc. Tâm hỷ lạc đưa đến chứng đắc các tầng Thiền Sắc giới và Vô sắc giới. Bát định (gồm Tứ thiền Sắc giới và Tứ thiền Vô sắc giới) là kết quả tu tập của Thiền chỉ. Tuyệt đỉnh của Thiền chỉ là Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Nhưng dù đạt đến tầng vắng lặng cao siêu cùng tột này, hành giả vẫn chưa phát huy trọn vẹn ánh sáng trí tuệ để đánh tan đêm tối vô minh ngủ ngầm trong luồng nghiệp. Vô minh và ái dục giống như hai con thú dữ. Ngày nào chưa thuần hóa được chúng thì hành giả chưa tuyệt đối chu toàn, chưa thoát ra khỏi vòng sanh tử trong tam giới (Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới), chưa hoàn toàn giải thoát. 
Trước khi thành đạo, Đức Thế Tôn cũng đã trải qua các thiền chứng của Bát định, nhưng Ngài không thỏa mãn với những thành quả ấy. Ðã kiểm soát và khắc phục tâm, tạm thời làm chủ mình, nhưng Ngài nhận định rằng bấy nhiêu đó chưa đủ. Thú dữ vô minh, ái dục vẫn còn đó. Phải tận diệt mọi nhiễm ô và mọi lậu hoặc mới chấm dứt hậu hoạn. Mục tiêu cứu cánh của Ngài là chứng ngộ chân lý cùng tột, thể nhập thực tại, thấy sự vật đúng như nó, tức là chứng ngộ ba đặc tính của các pháp hữu vi là vô thường, khổ, vô ngã. Chính nhờ trí tuệ trực giác này mà Bồ tát đập tung vô minh đã bao phủ từ vô lượng kiếp để vượt đến thực tại, chứng ngộ tường tận và trọn vẹn bốn chân lý cao thượng “trước kia chưa từng được nghe”, qua con đường Thiền quán.

Nhãn:

Cố gắng thay đổi bản thân


Ông thiền sư khốn khổ này, Chikan, đã tu tập không ngừng trong vòng ba mươi năm. Ông ta là một người kiên trì cầu đạo, một người rất thánh thiện, rất chân thành, thiết thiết tha tha. Ông ta thực tập đủ mọi phương cách đã được chỉ dạy, đã viếng thăm không biết bao nhiêu vị Ðại sư, đã sống qua không biết bao nhiêu tu viện. Ông ta đã làm tất cả những gì mà trong khả năng của một con người có thể làm được. Ông ta thực hành yoga, tọa thiền, thử đủ mọi thứ -nhưng tất cả chẳng mang lại một kết quả nào.

Chẳng có chuyện gì xảy ra ; mà ngược lại, càng ngày ông càng cảm thấy phiền não bực bội hơn. Thêm một phương thức thất bại, mối phiền não bực bội lại càng dày thêm.   Ông đã đọc hầu hết các kinh điển Phật giáo –hàng ngàn cuốn như thế. Người ta nói rằng ông Chikan này có đủ tất cả các loại kinh điển chất đầy trong phòng và ông ta đọc ngấu nghiến suốt ngày lẫn đêm không lúc nào ngừng. Ông ta lại có một trí nhớ thật tuyệt vời, nên tất cả những kinh sách đọc qua một lần ông đều thuộc nằm lòng –nhưng mà vẫn chẳng có gì xảy ra cả.

Thế rồi một hôm ông ta đốt cháy hết toàn bộ cái thư viện chất chứa kinh sách của mình. Thấy kinh sách bốc cháy trong ngọn lửa, ông cười lên sảng khoái. Rồi ông rời tu viện, rời Thầy, tìm đến trú ngụ trong một ngôi chùa đổ nát. Chẳng còn ngó ngàng gì đến thiền định, chẳng còn ngó ngàng gì đến yoga, ông quên luôn tất cả pháp môn này nọ, những gì được gọi là giới đức, v.v.. kể cả việc vào trong chùa lễ Phật. Nhưng rồi chuyện đó đã xảy ra trong lúc ông ta trú ngụ trong ngôi chùa hoang phế này.

Thiền sư Chikan đang làm cỏ chung quanh chùa -một công việc chẳng có gì là tôn giáo, chẳng có gì là đặc biệt, chỉ là nhổ cỏ thôi. Khi ông ta quẳng đi một mảnh ngói bể, nó chạm vào một cây tre và gây lên một tiếng động –trong khoảnh khắc đó là chittakshana, là khoảnh khắc của giác ngộ xảy ra. Ngay khi tiếng động của viên ngói chạm vào cành tre, một cú ‘sốc’, một cú đập mạnh thình lình xảy đến, tâm của ông ta ngưng đọng lại trong khoảnh khắc này, và ông ta hoát nhiên đạt ngộ.

Làm thế nào mà người ta lại có thể đạt đến giác ngộ được trong một khoảnh khắc ngắn ngủi như vậy ? Vâng, đó là điều có thể xảy ra, bởi vì để được giác ngộ -một người chỉ cần nhận ra được sự thật. Ðây không phải là một cái gì xảy ra ở bên ngoài mà là phát khởi từ bên trong. Nó luôn hiện hữu ở đó nhưng bởi vì bạn đã  bị bao phủ bởi những đám mây mù, bạn đã bị tràn ngập bởi những tạp niệm.   Thiền sư Chikan đã đốt toàn bộ kinh điển. Ðây chỉ là một hình ảnh tượng trưng.

Bây giờ thì ông ta không còn nhớ bất cứ điều gì, đã quên đi tất cả việc tìm cầu, đã không còn tha thiết đến mọi chuyện. Không còn vướng mắc Chikan trở lại sống như một người bình thường -ngay cả không còn xem mình là một tăng sĩ. Ông đã không còn nuôi bất cứ kỳ vọng nào, không còn mục tiêu nào của bản ngã để theo đuổi. Hãy nhớ rằng, có hai loại mục tiêu của bản ngã: thứ nhất, mục tiêu thế tục và thứ hai là mục tiêu phi-thế-tục. Một số người chạy đi săn tìm tiền bạc; một số khác chạy theo quyền lực, danh vọng, thế lực; cũng có những người đi  thì tìm cầu Thượng Ðế, niết bàn, giác ngộ -nhưng nói chung, sự kiếm tìm không bao giờ ngưng nghỉ. Và ai đang đi tìm cầu? Thì cũng là chung một cái bản ngã đó.

Khoảnh khắc mà bạn buông bỏ sự tìm cầu cũng chính là khoảnh khắc mà bạn buông bỏ cái bản ngã. Trong cái khoảnh khắc vô cầu đó, người tìm cầu đã không còn hiện hữu. Bây giờ ta hãy hình dung ra cái ông sư khốn khổ -bây giờ không còn là một nhà sư nữa- đang trú ngụ trong ngôi chùa hoang phế này. Ông ta không còn bất cứ nơi chốn nào khác để đi đến, ngày ngày chỉ biết dọn đất làm vườn -có thể là để gieo trồng cây trái hoa màu, đại loại như thế. Rồi ông gặp phải một mảnh ngói bể, ông ta liệng nó đi một cách vô ý thức.

Mảnh ngói chạm vào cành tre vang lên một tiếng "cách" bất ngờ, một tiếng động đột nhiên, và bỗng nhiên ông đạt ngộ. Và ông nói: Từ tiếng vang của mảnh ngói bể chạm vào cành tre Lập tức, tôi quên hết tất cả những gì đã học. Giác ngộ là một tiến trình giải trừ học vấn. Trở thành hoàn toàn ngu dốt. Nhưng cái dốt này thì vô cùng rực rỡ trong khi cái tri kiến của bạn lại thật ảm đạm, tối tăm. Cái dốt này rất là sống động và rực sáng trong khi cái kiến thức của bạn thì lại u tối và bay mùi tử khí. Ông ta nói: Lập tức, tôi quên hết tất cả những gì đã học.

Trong khoảnh khắc đó đã không còn tri kiến, trong khoảnh khắc đó đã không còn người nhận biết, người quan sát, mà chỉ là một tiếng động vang lên. Từ đó một người tỉnh thức sau một cơn mê ngủ dài. Và ông tiếp: Việc cải đổi bản tánh mình trở nên không cần thiết. Ngay hôm đó ông cảm nhận được rằng mình đã nỗ lực một cách không cần thiết. Việc cải đổi bản tánh mình trở nên không cần thiết. Bạn không cần phải tu sửa, bạn không cần phải cải thiện bạn -tất cả chỉ là những chuyện vớ vẩn.

Nên cảnh giác đối với tất cả những ai đến bảo bạn hãy tu tâm sửa tánh, hãy thế này thế nọ, hãy trở nên đức hạnh; những người không ngừng bảo bạn rằng cái này sai, không nên làm, cái này đúng, hãy làm theo, cái này sẽ dẫn bạn đến thiên đàng, cái kia sẽ đưa bạn xuống địa ngục. Tất cả những ai không ngừng bảo bạn hãy sửa đổi tâm tánh, hãy tự cải thiện mình đều là những kẻ cực kỳ nguy hiểm. Họ là một trong những nguyên nhân căn bản cản trở bạn đi đến giác ngộ. Bản tánh không thể nào được sửa đổi mà phải được chấp nhận y như thế. Không có một con đường nào khác.

Bất cứ bạn là ai, bất cứ bạn là cái gì cũng có nghĩa là bạn là thế đó, bạn là như vậy. Một sự chấp nhận hoàn toàn -Ðức Phật gọi đó là tathata –như như-, một sự chấp nhận hoàn toàn y như vậy. Chẳng có gì ở đó để thay đổi.   Làm sao bạn có thể thay đổi được nó và ai là người thay đổi nó? Ðó chính là tự tánh của bạn và bạn lại cố gắng để thay đổi nó! Chẳng khác gì một con chó chạy đuổi theo cái đuôi của mình. Con chó sẽ nổi khùng lên. Nhưng những con chó còn chưa xuẩn động bằng con người.

Con người cứ mãi chạy đuổi theo cái đuôi của mình, càng thấy khó khăn chừng nào họ lại càng nhảy cẩng lên, và càng cố gắng bao nhiêu họ càng trở nên quái đản bấy nhiêu. Không có gì để thay đổi bởi vì tất cả đều tuyệt vời. Ðó gọi là giác ngộ. Tất cả đều là như thị, tất cả đều viên mãn, đây là cái thế giới hoàn chỉnh nhất, khoảnh khắc này là tròn đầy -thực chứng điều này được gọi là giác ngộ.

Trích : Thiền - Con đường nghịch lý - Osho

Nhãn: ,

Không người làm



Giới thiệu các trích đoạn về sự hòa nhập giữa người làm và việc làm.


Người làm và mục tiêu không còn là hai chủ thể đối nghịch nhau mà hòa làm một. Người làm không còn cảm giác thực hiện nữa. Loại trạng thái vô thức này chỉ có khi chính người làm không còn tự ngã, và trở thành đồng nhất với hành động của họ


Sự tính toán trở thành lầm lạc. Hành động đi trật đường. Cái tâm rối loạn của người làm tạo nên sự rối loạn trong mọi hành vi. 


Con người là động vật có tư tưởng, nhưng chúng ta thực hiện những thành tựu vĩ đại trong khi không một tính toán và không suy nghĩ. Cái tâm “như trẻ con” (nhi tâm) này phải trải qua nhiều năm huấn luyện thuật “quên bản ngã” mới có thể khôi phục. Khi đạt tới trình độ này, con người “nghĩ mà không nghĩ”.   


Hắn suy nghĩ giống như những trận mưa rào từ không trung rơi xuống; hắn suy nghĩ giống như những đợt sống uốn lượn trên mặt đại dương, như muôn sao soi sáng bầu trời đêm tối, như lá xanh đang trổ ra trong gió heo may mùa Xuân. Chính người đó là hạt mưa, là đại dương, là muôn sao, là lá xanh tràn trề nhựa sống. 


“Vì cứ cố gắng nghĩ đến nó, nên anh không làm được. Hãy hoàn toàn chú tâm vào hơi thở, giống như anh không có việc gì khác để làm!” Tôi tốn biết bao thời gian mới đạt đến ý muốn của Đại sư; rốt cuộc rồi cũng thành công. Tôi tập tự quên mình trong hơi thở một cách dễ dàng đến nỗi đôi khi tôi có cảm giác rằng chẳng phải tôi đang thở mà – thật là kỳ lạ – tôi “bị thở” ( tự thở ). Có lúc tôi ngẫm nghĩ hàng giờ đồng hồ, không chịu thừa nhận ý niệm táo bạo này, nhưng tôi không hoài nghi rằng sự hô hấp còn có tất cả những diệu dụng mà Đại Sư đã hứa hẹn.


“Đừng suy nghĩ anh phải làm gì? Đừng suy tính làm cách nào để thực hiện! Cử động sẽ chỉ được thực hiện 1 cách êm thắm khi nó bất ngờ. Giống như thể cử động thực hiện chính nó. Anh không được cố tình cử động.” 


 “Anh phải hành động, giống như hài nhi nắm lấy ngón tay mà người ta chìa ra cho nó. Nó nắm chặt đến độ người lớn không khỏi ngạc nhiên về sức mạnh của cái bàn tay tí hon. Và khi nó buông ngón tay anh ra, bàn tay của nó không giật chút nào. Anh biết tại sao không? Bởi vì đứa trẻ không hề nghĩ trong đầu: Bây giờ ta phải buông ngón tay này ra để nắm lấy một vật khác. Nó hoàn toàn không tự giác, không có mục đích gì, khi từ vật này chuyển sang vật khác. Chúng ta bảo nó đang chơi đùa với vật, nếu nói rằng vật đùa với nó, có phải cũng đúng như nhau không?” 


Thời cơ đúng lúc của anh không đến là vì anh không chịu buông chính mình ra. Anh không chờ đợi sự thành công; trái lại, anh gồng mình chờ sự thất bại. Nếu cứ như vậy mãi, anh không có cách nào khác hơn là cầu viện tới 1 bí quyết nào đó, và khi nào anh còn cầu viện thì bàn tay anh sẽ không mở ra đúng cách – giống như bàn tay đứa hài nhi. Bàn tay anh không buông ra một cách tự nhiên như vỏ của một trái cây chín mùi.” 


“Nghệ thuật chân chính không có mục đích! Khi làm, anh càng cố chấp vì muốn thực hiện được thì anh càng khó thành công. Ý chí chấp thủ quá đáng là trở ngại của anh. Anh tưởng rằng điều gì chính anh không làm thì sẽ không xảy ra - Nhưng không phải vậy” 


 -----------------------


- Thả lỏng
- Hơi thở
- Nhịp nhàng


- Buông chính mình
-------------------------------- 
Nguồn : Thiền trong nghệ thuật bắn cung 

Nhãn:

Tâm thức bạn là tấm gương




Phật nói: cốt lõi bên trong nhất của bạn đơn giản là trống rỗng. Nó chưa bao giờ làm điều gì. Nó không thể làm được. Nó là nhân chứng, bởi chính bản chất của nó. 


Hãy quan sát nó. Hãy tìm ra liệu điều ngài nói là đúng hay không. Hãy thử điều đó trong cuộc sống của bạn. Bạn đã là đứa trẻ, bây giờ bạn không còn là đứa trẻ nữa; thế rồi bạn đã là thanh niên, bây giờ bạn không còn trẻ nữa; bây giờ bạn đã trở nên già; thân thể thời thơ ấu đã mất rồi, tâm trí thời thơ ấu đã biến mất. Thế rồi bạn có một thân thể khác trong tuổi thanh niên của mình - cái đó đã qua đi. Sự cường tráng, sự sống động, tuổi thanh xuân, cái đẹp - mọi thứ đều đã biến mất. Bạn đã có một kiểu tâm trí khác - quá tham vọng, quá ham muốn, quá bản ngã. Bây giờ tất cả những cái đó đều là câu chuyện của quá khứ. 


Bây giờ cái chết đang tới; bạn có thể nghe thấy âm thanh của việc tới của nó mỗi ngày một gần hơn. Bạn có thể cảm thấy rằng mọi ngày khoảng cách đang trở nên nhỏ dần. Nhưng hãy quan sát một điều: bạn vẫn còn như cũ. Cốt lõi bên trong nhất của bạn đã không thay đổi một chút nào, nó đã không thay đổi chút nào. Khi bạn là đứa trẻ, nó vẫn là cùng tâm thức đó quan sát từ đằng sau. Bạn là thanh niên; nó vẫn là cùng tâm thức đó, quan sát. Thế rồi bạn trở nên già; nó vẫn là cùng tâm thức đó. 


Cứ dường như tâm thức là tấm gương. Đứa trẻ đứng trước tấm gương, tấm gương phản chiếu đứa trẻ; thanh niên đứng trước tấm gương, tấm gương phản chiếu thanh niên đó; ông già đứng trước tấm gương, tấm gương phản chiếu ông già này - nhưng tấm gương thì không là đứa trẻ, không là thanh niên, không là ông già. Cà khi tất cả đều đã qua đi đơn giản chỉ còn tấm gương phản chiếu cái không, chỉ hiện hữu ở đó. 


Tâm thức bạn là tấm gương. 


Biểu dụ này về tấm gương là cực kì có ý nghĩa. Nó sẽ rất có ích về Đạo nếu bạn có thể hiểu được nó. Tâm thức đang đứng đằng sau, quan sát. Nó là nhân chứng. Mọi sự tới rồi đi... cũng giống như bộ phim. Bạn ngồi trong rạp chiếu phim; trên màn ảnh nhiều điều tới rồi đi. Đôi khi bạn bị đồng nhất nữa. Đôi khi bạn trở nên bị đồng nhất với diễn viên. Có thể anh ta đẹp, mạnh mẽ, có duyên, sự duyên dáng của cá tính, gây ấn tượng, có sức hấp dẫn nào đó: bạn bị đồng nhất, bạn quên mất bản thân mình. Trong một khoảnh khắc bạn bắt đầu nghĩ cứ dường như anh ta là bạn. Đôi khi điều xảy ra là có một cảnh rất buồn, và bạn bắt đầu khóc. 


Mắt bạn đẫm lệ... và chẳng có gì trên màn ảnh cả - chỉ là ánh sáng và bóng tối trôi qua. Và bạn biết điều đó chứ, nhưng bạn đã quên mất trong một khoảnh khắc. Nếu bạn nhớ điều đó, bạn sẽ bắt đầu tự cười mình: "Mình làm gì thế này? kêu à? khóc à?" Nhưng điều đó xảy ra khi bạn đọc tiểu thuyết nữa. Ít nhất có cái gì đó trên màn ảnh. Đọc tiểu thuyết thì chẳng có gì cả - không màn ảnh, không diễn viên, chẳng có gì. Chỉ trong tưởng tượng riêng của bạn mà tiểu thuyết cứ diễn ra mãi. Và bỗng nhiên đôi khi bạn cảm thấy rất hạnh phúc, và đôi khi bạn cảm thấy rất buồn; bầu không khí của tiểu thuyết bắt đầu sở hữu bạn. 


Đây đích xác là điều đang xảy ra trong cuộc sống. Cuộc sống là một sân khấu lớn, một vở kịch lớn. Và nó rất phức tạp - bởi vì bạn là diễn viên, và bạn là đạo diễn, và bạn là cuốn phim, và bạn là màn ảnh, và bạn lá máy chiếu, và bạn là khán giả nữa. Bây giờ bạn là tất cả các tầng: một phần đóng vai trò của diễn viên, phần khác chỉ đạo, phần khác vận hành như màn ảnh, phần khác có tác dụng như máy chiếu. Và đằng sau tất cả những cái đó là thực tại của bạn - nhân chứng, người đang quan sát. 


Người quan sát này... Một khi bạn bắt đầu cảm thấy sự tồn tại của nó, một khi bạn bắt đầu được lắng đọng với nó, ngày một hoà điệu với nó, thế thì bạn sẽ thấy điều Phật ngụ ý khi ngài nói tâm thức là tấm gương. Tấm gương không bao giờ bị ô uế, nó chỉ dường như vậy thôi. Bạn có thể để cả đống phân trước tấm gương; tất nhiên, nó sẽ phản chiếu đống phân đó. Nhưng dầu vậy tấm gương vẫn không bị ô uế, nó không bị ô nhiễm. 


Nó không trở nên không thuần khiết bởi vì đống phân được phản chiếu trong nó. Nó vẫn còn thuần khiết. Bỏ phân đi và tấm gương có đó trong mọi sự thuần khiết của nó. Ngay cả khi phân được phản chiếu thì tấm gương cũng vẫn không bị ô uế. Cho nên bất kì điều gì là không thuần khiết thì đều thực sự là việc phản chiếu; nó được soi gương. Và Phật nói: Nếu ông đánh sạch xỉ này, bụi của điều ác và đam mê, hạnh kiểm của ông sẽ không thể nghi ngờ được. 


Cho nên việc nhấn mạnh không vào hạnh kiểm. Sự nhấn mạnh là vào sự thuần khiết tựa tấm gương của tâm thức.
------------------------------
by : Osho